Thanh toán cho Nhà thầu phải thi hành án

0
408
nha-thau-phai-thi-hanh-an
thanh toán cho Nhà thầu phải thi hành án

Trong quá trình triển khai thực hiện hợp đồng thi công với Nhà thầu xây dựng, Chủ đầu tư/ Tổng thầu có thể gặp tình huống Cơ quan thi Hành án đến tiếp xúc và yêu cầu cung cấp thông tin về việc thanh toán hợp đồng cho một Nhà thầu cụ thể, nhằm lên phương án xử lý tài sản bảo đảm việc thi hành án. Trường gặp vào tình hướng này, Chủ đầu tư/ Tổng thầu cần xử lý như sau:

Quyền xác minh tài sản của Cơ quan Thi Hành án

Theo quy định của khoản 4, Điều 20, Luật thi hành án Dân sự, thì Chấp hành viên được quyền xác minh tất cả các tài sản của Người thi hành án. Khi tiến hành xác minh tài sản, thì Chấp hành viên có trách nhiệm:

  • Xuất trình thẻ Chấp hành viên
  • Và xác định rõ yêu cầu cần xác minh của mình. Có thể cụ thể tại Biên bản làm việc hoặc bằng Văn bản yêu cầu.

Trong trường hợp này, Chủ đầu tư/Tổng Thầu cần kiểm tra rõ người đang yêu cầu xác minh của mình cụ thể là ai. Trong nhiều trường hợp chỉ là 1 cán bộ cầm theo giấy giới thiệu mà không có thẻ Chấp hành viên. Khi đó, Chủ đầu tư/Tổng thầu có thể từ chối làm việc.

Nghĩa vụ của Chủ đầu tư/Tổng Thầu với Cơ quan thi Hành án

Theo quy định của Điều 105 Bộ luật dân sự, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Trường hợp Chủ đầu tư/Tổng thầu ký hợp đồng với Nhà thầu, đã được thực hiện, nghiệm thu nhưng chưa được thanh toán, thì phần giá trị hợp đồng chưa được thanh toán trở thành tài sản phải trả cho Nhà thầu bị thi hành án.
Khi đó, Chủ đầu tư/Tổng thầu được coi là bên thứ 3 đang giữ tiền của người phải thi hành án theo quy định của Điều 23 Nghị định 62/2015/NĐ-CP. Vì vậy, Chủ đầu tư/Tổng thầu phải giao nộp cho cơ quan thi hành án số tiền đáng ra phải thanh toán cho Nhà thầu phụ đang phải thi hành án. Trường hợp không thực hiện yêu cầu của Cơ quan Thi Hành án, Chủ đầu tư/Tổng thầu sẽ bị áp dụng các biện pháp bảo đảm cưỡng chế để thi hành án.

Xử lý các trường hợp thanh toán

Do hợp đồng xây dựng thường được thực hiện trong một thời gian dài, tiền thi công được thanh toán trải dài theo từng đợt thanh toán, nên có nhiều trường hợp việc thanh toán cho Nhà thầu thường bị dở dang. Theo đó, tùy từng trường hợp mà việc đáp ứng yêu cầu của Cơ quan Thi Hành án lại khác nhau.
Trường hợp 1: Đối với số tiền đã giải ngân thanh toán:
Trường hợp tiền đã thanh toán trước khi nhận được yêu cầu của Cơ quan Thi hành án, thì Chủ đầu tư/Tổng thầu cần cung cấp thông tin cho Cơ quan thi hành án. Và chuẩn bị hồ sơ chứng minh nếu cơ quan Thi hành án yêu cầu.
Trong một số tình huống, nhà thầu có ủy quyền nhận thanh toán, thì Chủ đầu tư/Tổng thầu cũng phải chứng minh rõ để Cơ quan Thi hành án liên hệ xác minh tại đơn vị đã nhận ủy quyền của Nhà thầu phải thi hành án.
Trường hợp 2: Giá trị nghiệm thu và phê duyệt thanh toán:
Trường hợp này, Đơn vị cần thông tin cho Cơ quan Thi Hành án biết về giá trị nghiệm thu chuẩn bị thanh toán và lên phương án giao nộp cho Cơ quan Thi hành án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp 3: Giá trị đã nghiệm thu, nhưng chưa phê duyệt thanh toán.
Trường hợp này, Đơn vị cần tính toán đầy đủ các quyền lợi của đơn vị, xác định giá trị thanh toán, các khoản phạt, khấu trừ, chi trả hộ v.v. trước khi chốt giá trị phải thanh toán cho Nhà thầu bị thi hành án.
Trường hợp Nhà thầu không thực hiện không đúng hợp đồng, bị phạt ngược, thì Chủ đầu tư/Tổng thầu cần lên phương án xử lý nghĩa vụ hợp đồng với Nhà thầu đang phải thanh hành án. Quá trình này cũng phải thông tin để Cơ quan Thi Hành án được biết.
Trường hợp 4: Nhà thầu chưa thực hiện hợp đồng
Hợp đồng là một văn bản thỏa thuận về việc các bên sẽ làm việc gì đó trong tương lai. Theo đó, tiền hợp đồng chỉ thanh toán và trở thành tiền của Nhà thầu khi hợp đồng đã được triển khai thực hiện trên thực tế.
Vì vậy, trường hợp Nhà thầu không thực hiện hợp đồng, thì Chủ đầu tư/Tổng thầu cũng cần thông tin cho Cơ quan thi hành án biết và không phải giao nộp tiền theo nội dung hợp đồng đã ký.
NHƯ VẬY
Kết lại là khi nhận được yêu cầu xác minh tài sản của Cơ quan Thi hành án, thì Chủ đầu tư/Tổng thầu có nghĩa vụ phải chấp hành nếu không sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành án.
Thời hạn để cung cấp thông tin là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đươc yêu cầu. Tuy nhiện, việc cấp hồ sơ tài liệu cần có thời gian để tập hợp chứng từ, quyết toán giá trị nên Chủ đầu tư có thể yêu cầu

Comments

comments

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here